Các nghệ sĩ đang trong xu hướng hát nhạc với chất liệu văn hóa dân gian ngày một nhiều. Đó là tín hiệu tích cực khi văn hóa truyền thống và văn hóa phi vật thể từ những cộng đồng thiểu số lan tỏa hơn. Nhưng, trong niềm vui và những lời tụng ca không khỏi còn đó những trăn trở.
Nan đề sở hữu trí tuệ
Trong các diễn ngôn về công nghiệp văn hoá, người ta dễ dàng kể tên điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, thiết kế, thời trang… nhưng di sản (nhất là di sản phi vật thể) thường chỉ xuất hiện như bối cảnh, chất liệu, phông nền trong những sản phẩm phái sinh như âm nhạc, điện ảnh.
TS Lê Tùng Sơn, chuyên gia về sở hữu trí tuệ chia sẻ: “Người dân bản địa, những cộng đồng bảo tồn giá trị này, đa phần đời sống của họ không thực sự tốt. Họ phải bảo tồn giá trị từ cha ông song khả năng thu tiền, thu giá trị kinh tế lại thuộc về những người ngoài cộng đồng”.
Trong ngôn ngữ chuyên ngành, ông gọi chung toàn bộ những gì thuộc về nền văn hoá bản địa (từ bài thuốc dân gian đến dân ca, hò, vè, câu đố, nghi lễ…) là tri thức truyền thống. Và tri thức này, xét dưới lăng kính sở hữu trí tuệ, có thể chia làm hai nhóm chính.
Nhóm thứ nhất là những tri thức có thể bảo hộ dưới dạng sáng chế như các bài thuốc dân gian. Nhóm thứ hai là các biểu đạt văn hoá: làn điệu dân ca, câu hò, câu đố, các hình thức nghệ thuật dân gian được truyền miệng qua nhiều thế hệ. Đây chính là “mỏ chất liệu” mà công nghiệp sáng tạo đang sử dụng và bùng nổ thời gian vừa qua.
Từ những năm 1980, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) đã khuyến nghị các quốc gia châu Á, châu Phi (nơi còn giữ nhiều kho tri thức truyền thống) xây dựng khung pháp lý riêng để bảo vệ loại tài sản đặc biệt này. Nhưng cho đến nay, như phân tích của TS Sơn, phần lớn hệ thống luật vẫn mới đi được nửa chặng đường. Tức là, chỉ thừa nhận quyền nhân thân đối với các tác phẩm dựa trên tri thức truyền thống, chứ chưa ghi nhận rõ quyền tài sản cho cộng đồng nắm giữ di sản.
Việt Nam cũng đang ở tình trạng này. Luật Sở hữu trí tuệ quy định rằng, khi tác giả sáng tạo trên cơ sở tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, họ phải nêu rõ nguồn gốc, tôn trọng và bảo vệ các giá trị đó. Luật dừng lại ở yêu cầu trích dẫn và tôn trọng. Không có dòng nào đặt ra cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế: trả phí cho ai, trả như thế nào, phân phối về cộng đồng ra sao.
Trong khi cộng đồng di sản chỉ có quyền “được nhắc tên”, thì những người sáng tạo thứ cấp (nhạc sĩ, nhà thiết kế, thương hiệu, hãng phim) lại được bảo vệ đầy đủ quyền tài sản. Họ đăng ký bản quyền cho sản phẩm mới, độc quyền khai thác, cấp phép, thu phí sử dụng. Nghịch lý ở chỗ, người đã gìn giữ tri thức qua nhiều thế hệ chỉ được công nhận về tinh thần, còn dòng tiền lại chảy về phía những chủ thể đến sau, sở hữu công nghệ sản xuất, phát hành, phân phối.
Phép thử ‘trả phí công bằng’
Một vụ kiện tại Trung Quốc cuối thế kỷ XX mà TS Sơn dẫn lại cho thấy rõ khoảng trống pháp lý này. Trong một buổi hoà nhạc nghệ thuật dân gian ở Nam Kinh, một ca sĩ trình bày một bài dân ca. Đài Truyền hình Trung ương phát sóng, in hàng nghìn đĩa và ghi tên ca sĩ là tác giả. Dân tộc Hách Triết ở Hắc Long Giang, đã kiện ra toà với hai yêu cầu: khẳng định đây là dân ca của họ, không phải sáng tác mới, và yêu cầu bồi thường kinh tế vì đã sử dụng tác phẩm mà không trả tiền.
Toà án Bắc Kinh chấp nhận yêu cầu thứ nhất: công nhận quyền nhân thân, buộc phải cải chính lại nguồn gốc bài hát, trả lại tên cho cộng đồng. Nhưng yêu cầu bồi thường kinh tế bị bác, vì không có cơ sở pháp lý nào để xác lập quyền tài sản cho cộng đồng với một dân ca truyền thống. Vụ kiện này được coi là ví dụ tiêu biểu cho những khoảng trống pháp lý liên quan tới khai thác tri thức dân gian trong công nghiệp văn hóa.
Từ góc độ này, TS Lê Tùng Sơn cảnh báo một khả năng méo mó xa hơn rằng, trong bối cảnh hiện nay, cộng đồng không được luật bảo vệ về tài sản, nhưng những nhà sáng tạo thứ cấp lại được bảo vệ đầy đủ. Điều đó mở ra nguy cơ, một ngày nào đó, chính những người sáng tạo dựa trên tri thức truyền thống có thể quay lại kiện cộng đồng, những người vẫn hát bài hát của mình, vẫn dệt hoa văn của mình, vẫn hành lễ theo cách tổ tiên để lại.
Trước thực trạng này, một số quốc gia châu Phi đã bắt đầu đưa vào luật khái niệm “trả phí công bằng” khi sử dụng tri thức truyền thống. Nhưng ngay lập tức, các câu hỏi muôn thủa hiện ra: ai đại diện cho cộng đồng để đi đòi quyền lợi; tiền được trả cho cơ quan nào, và làm sao để trở về đúng bản làng, nhóm người cụ thể; đâu là ranh giới giữa “lấy cảm hứng” và “tận dụng trực tiếp”.
Đừng quên, hệ thống sở hữu trí tuệ hiện đại được xây dựng trên giả định có một tác giả cụ thể, một thời điểm sáng tạo xác định, một tác phẩm “đóng”. Tri thức truyền thống thì ngược lại: tích luỹ qua nhiều thế hệ, không có tác giả duy nhất, không có một bản gốc bất biến, và sống được là nhờ cộng đồng vẫn đang thực hành nó mỗi ngày.
Trong một nhận xét tổng quan, TS Mai Thị Hạnh, Phó Trưởng Khoa Công nghiệp Văn hoá và Di sản, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật (ĐHQG Hà Nội), nhấn mạnh: “Bảo tồn cần được hiểu trong một trạng thái động gắn liền với sáng tạo. Khi di sản được sử dụng và tái tạo trong đời sống đương đại, nó tiếp tục sản sinh ra những giá trị và ý nghĩa mới cho con người hôm nay”.
Tức là, Soobin Hoàng Sơn vẫn có thể hát xẩm trong ngôn ngữ thể hiện đương đại, Hòa Minzy vẫn có thể hát Bắc Bling với đủ các chất liệu dân gian trong MV, Ngũ Cung cũng vẫn hát Cô đôi thượng ngàn phong cách Rock…Họ đáng được ghi nhận vì góp phần lan tỏa văn hóa truyền thống, di sản văn hóa phi vật thể. Họ cũng cẩn thận với những cố vấn chuyên môn từ cộng đồng.
Song, trong thời đại trăm hoa đua nở, lời nhắc của TS Lê Tùng Sơn cũng không phải là thừa. Dù anh cũng cho rằng vấn đề vẫn phải nghiên cứu rất nhiều. Nhưng trước khi luật có thể đi cùng với sự bùng nổ của công nghiệp nghe nhìn liên quan tới chất liệu dân gian, những quỹ bảo tồn cộng đồng, những guideline cho những người làm nghề là cần thiết. Nghệ sĩ sẽ có thêm lựa chọn để cân nhắc.
Bởi làm đúng ngay từ đầu với công nghiệp văn hóa và thời kỳ chúng ta mong đợi là phục hưng văn hóa vẫn sẽ tốt hơn là sau này phải đi sửa chữa những “vấn đề của lịch sử”.
Suy cho cùng, nghệ sĩ đến với chất liệu truyền thống bằng tấm lòng. Họ muốn làm tốt nhất trong năng lực biểu diễn cũng như đạo đức hành nghề. Dù pháp lý vẫn là khoảng trống nhưng không ai muốn trở thành mục tiêu phân tích chuyên môn của những điều họ chưa biết.
Và công nghiệp văn hóa không đơn thuần là bàn chuyện kiếm tiền từ văn hóa. Đó còn là trụ cột để “soi đường cho quốc dân đi”.
Trong câu chuyện này, nó là phép thử cho công bằng xã hội với các chủ thể văn hóa.
Phạm Mỹ