Việc các di tích chính ở Huế sẽ mở cửa trở lại ngay ngày 31/10 khiến giới di sản thở phào. Vẫn biết còn nhiều thứ còn ngổn ngang sau lũ, vẫn cần những cuộc kiểm định sâu nhưng thông tin mở cửa di tích mang nhiều thông điệp tích cực.
Oằn mình trong nước lớn
Việc các di tích chính ở Huế sẽ mở cửa trở lại ngay ngày 31/10 khiến giới di sản thở phào. Vẫn biết còn nhiều thứ còn ngổn ngang sau lũ, vẫn cần những cuộc kiểm định sâu nhưng thông tin mở cửa di tích mang nhiều thông điệp tích cực.
Oằn mình trong nước lớn
Lội bì bõm trong sân Đại Nội ngập nước, các nhân viên Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế gạt từng mảng bùn non và tát nước bằng xô chậu. Tiếng máy bơm rền vang hoà cùng tiếng chổi tre sột soạt trên những ô gạch cổ đã tồn tại hàng trăm năm. Sau nhiều ngày mưa xối xả, nước lũ dâng cao tràn qua cổng Ngọ Môn khiến khu vực Hoàng cung chìm trong biển nước đục ngầu. Trận lũ lớn bất ngờ ập đến, buộc quần thể di tích Huế phải tạm đóng cửa khẩn cấp để bảo vệ di sản và bảo đảm an toàn cho du khách.
Tại khu vực Kinh thành Huế, mực nước lũ dâng cao khoảng 1 mét, khiến nhiều sân vườn, tiểu cảnh ngập sâu trong nước. Các công trình như lầu Tàng Thơ (Tàng Thơ Lâu) – nơi từng lưu trữ nhiều tài liệu quý giá của nhà Nguyễn – cũng bị nước tràn vào hơn 1 mét. Bên ngoài Kinh thành, loạt lăng tẩm của các vua triều Nguyễn nằm ven sông hứng chịu ngập lụt nặng nề nhất: lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Dục Đức đều chìm sâu từ 1 đến 1,7 mét dưới nước lũ.
Ngay cả những di tích thấp tầng dọc bờ sông Hương như Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình cũng chìm trong dòng nước đục ngầu. Trong khi đó, một số điểm di tích ở vị trí cao như lăng vua Khải Định trên núi hầu như không bị ảnh hưởng bởi ngập lụt. Đây cũng là trường hợp hiếm hoi may mắn giữa cơn lũ lịch sử.
Chứng kiến cảnh dòng nước lũ “bủa vây” Kỳ Đài Huế và tràn qua nền điện Thái Hòa, không ít người không khỏi lo lắng cho số phận của những di sản trăm năm tuổi. Lãnh đạo thành phố Huế cho biết, đây là trận lũ “rất đặc biệt, hiếm gặp trong hàng chục năm qua”, với đỉnh lũ sông Bồ vượt mức năm 1999 và sông Hương thì xấp xỉ mức lũ lịch sử năm 1999. Còn lượng mưa ghi nhận thì vượt mọi kỷ lục, đứng thứ 2 về lượng mưa trong một ngày trong lịch sử nhân loại.
Với một quần thể kiến trúc chủ yếu làm bằng gỗ kê trên đế đá, tường gạch, vữa vôi, mái ngói hoàng lưu ly, hoành phi câu đối sơn son thếp vàng, việc bị ngâm trong nước bẩn nhiều ngày là rủi ro cực lớn tới tính ổn định của kết cấu. Nước lũ mang theo phù sa, cát, rác… nếu không được dọn sớm sẽ bám chặt lên bề mặt vật liệu, gây ố, gây mốc, tạo môi trường cho vi sinh tấn công gỗ.
Gỗ có thể “no nước”, mục chân; vữa vôi có thể bong từng mảng; các mảng sơn son thếp vàng rất dễ phồng rộp. Loại hư hỏng lặng lẽ này không ầm ầm như sập mái, nhưng khó xử lý hơn và dễ làm giảm tính nguyên gốc của di tích.
Vì thế, nỗi lo tái diễn thảm cảnh “đại hồng thủy 1999” càng đè nặng trong tâm trí giới chuyên môn và người dân cố đô. Còn nhớ, trận lụt kinh hoàng năm 1999 đã từng nhấn chìm cả Kinh thành Huế trong biển nước khiến nhiều cung điện, đền đài bị ngâm lâu ngày trong nước lũ khiến cho gỗ, ngói mục nát, xuống cấp nghiêm trọng, thậm chí có đoạn tường thành bị xô đổ. Bài học đau xót ấy khiến ai nấy đều thấp thỏm khi mưa lũ năm nay lớn hiếm từng có, nước dâng “nhanh giống đợt lụt năm 1999”.
Bảo tồn chủ động
Từ kinh nghiệm quá khứ, năm nay Huế phản ứng nhanh và linh hoạt. Ngay trong mưa lũ, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã đóng cửa toàn bộ hệ thống điểm tham quan để ưu tiên bảo vệ di sản và an toàn du khách. Lực lượng bảo vệ trực 24/24, kê kích và di dời hiện vật quý tới nơi cao hơn; những hạng mục dễ tổn thương được bảo vệ bằng bao cát, rào chắn; các cung điện gỗ trong Đại Nội được gia cố.
Khi nước bắt đầu rút từ chiều 30/10, gần 200 cán bộ, nhân viên lập tức tỏa đi các điểm, tiến hành tổng vệ sinh theo phương châm “nước rút đến đâu, dọn đến đó”, ưu tiên di tích thường đón khách và các cấu kiện gỗ. Bùn đất, rác, bèo tây trôi vào di tích được xúc dỡ ngay trong ngày; hệ thống cống rãnh được thông; những mái ngói bị đọng nước được xử lý để tránh thấm. Nhờ dọn sớm, bùn không kịp “ăn” vào bề mặt vật liệu, nước bẩn không kịp ngấm sâu vào chân cột.
Điều đáng mừng là đến thời điểm di tích mở lại đón khách (31/10), phía trung tâm cho biết “chưa ghi nhận thiệt hại lớn” đối với hệ thống di tích; chủ yếu hư hỏng là ở máy móc, điện, thiết bị. Hệ thống kiến trúc gỗ (phần quý nhất) về cơ bản an toàn. Nói cách khác, Huế đã vượt qua một “bài kiểm tra” khắc nghiệt mà không phải trả giá đắt như 1999. Sự khác biệt nằm ở ba thứ: kinh nghiệm sau 1999, quy trình mùa mưa lũ được thiết lập hằng năm, và một chút may mắn khi đợt lũ này tuy lớn nhưng thời gian không quá dài.
Sau sự kiện “đại hồng thủy 1999″, Huế và các chuyên gia trong và ngoài nước đã có một chiến dịch “hồi sinh Huế” bền bỉ và có thể gọi là thành công. Những phần xử lý, thay mới hài hòa, không bị “lố”. Song nói đi cũng phải nói lại, ta có thể mời chuyên gia, có thể kêu gọi dự án quốc tế, có thể làm mới cấu kiện nhưng không thể làm lại đúng cái dầm gỗ đã sống đủ cả trăm mùa mưa Huế, không thể tô lại đúng sắc ngói đã phai theo thời gian.
Công trình, cấu kiện, hiện vật gốc và tính nguyên bản của di tích luôn là ưu tiên hàng đầu. Và vấn đề lớn hơn đặt ra là câu chuyện bảo tồn di sản trước biến đổi khí hậu: mưa cực đoan khốc liệt hơn, lũ dâng nhanh hơn, bão cũng lớn hơn. Điều này đe dọa làm giảm “tuổi thọ” của công trình, cấu kiện, hiện vật gốc.
Cũng vì thế, trong chuyến thị sát Huế ngày 31/10, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính yêu cầu chính quyền thành phố, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tiếp tục rà soát tổng thể các hạng mục dễ bị tổn thương do mưa lũ; xây dựng phương án ứng phó dài hạn theo hướng thích ứng biến đổi khí hậu.
Bởi sự sống còn của di tích trước tình trạng biến đổi khí hậu là tính chủ động trong quy trình, phương án ứng phó trước khi thiên tai diễn ra chứ không chỉ là những đột phá trong việc tu bổ, tôn tạo sau lũ. Vì nếu chỉ trông chờ vào phục hồi công trình, cấu kiện, hiện vật sau thiên tai thì sớm muộn cũng phải thay nhiều hơn. Mỗi lần thay là một lần Huế bớt Huế đi một chút.
Vẫn cần thêm thời gian để đánh giá sâu nhưng đến lúc này, Huế đã làm được điều khó nhất ở thời điểm khẩn cấp, bảo vệ được hệ thống di sản trước một trận lũ rất lớn. Chúng ta đã không phải trả giá đắt trước một hiện tượng khắc nghiệt với lượng mưa chưa từng có trong lịch sử dân tộc.
Và giữ được tính nguyên vẹn của các công trình là điều đáng quý hơn nhiều những “kỳ tích hồi sinh” với biết bao mất mát, phai nhạt.
Phạm Mỹ